Gái Gú Việt Nam

Mùa nước nổi – Tác giả Cu Zũng

Phần 55
Vậy chàng trai Nghĩa của chúng ta đã bắt đầu cuộc sống riêng đấy các bồ tèo nhỉ, còn nhớ dạo tháng 9 năm ngoái rời xa gia đình bắt đầu lên Hà Nội lập nghiệp. Dạo đó mặc dù xa quê nhưng dù sao vẫn còn ở cạnh anh chị Cung Mận, hai người có thể nói chín phần mười coi Nghĩa như em ruột của mình, tất cả mọi việc anh chị làm cho Nghĩa đã chứng minh điều đó, không cần phải suy luận chúng ta cũng có thể biết được.

Sau hơn nửa năm sống cạnh anh chị thì giờ đây Nghĩa đã chuyển đi chỗ khác, sống một mình trong căn nhà cấp 4 bỏ không của bố con Chích Bông. Bắt đầu từ đây mới thực sự là cuộc sống riêng. Trước ở với anh chị thì ngoài đi làm và vệ sinh cá nhân ra Nghĩa hầu như chẳng phải làm gì cả, miếng cơm sáng tối đã có chị Mận chu đáo lo cho rồi. Nay khác à nha. Tự mình hết.

Nhưng Nghĩa của chúng ta là ai chứ, có phải con rồng con phượng, con vua cháu chúa gì cho cam đâu, cậu tự lập từ bé rồi, vất vả cũng đã thành quen. Mấy chuyện nhà cửa Nghĩa nào có ngán gì. Rất nhanh chóng chỉ vài ngày là Nghĩa vừa làm vừa mua sắm mấy thứ đồ đạc linh tinh tối cần thiết, cơ bản ổn định được cuộc sống.

Thế rồi thời gian cứ thế trôi đi, không khí lạnh mùa đông dần dần nhường chỗ cho những ánh nắng ấm áp của mùa hè. Tết đã qua thực sự rồi, mọi người lại đã bắt đầu lao vào cuộc sống mưu sinh thường ngày, như vốn nó vẫn phải vậy. Nghĩa của chúng ta vẫn làm công việc làm ở chợ người, sáng sớm đi làm, hết việc mới về nhà, trước khi về thì tiện đâu ăn đấy, tiện gì ăn nấy xong mới về nhà tắm rửa đi ngủ. Trong đầu cậu cũng nhẩm tính cố gắng làm liên tục thêm một hai tháng nữa để tĩnh lũy một số tiền nhất định, rồi sẽ sang bên đại học nông nghiệp học trồng cây mỗi tuần một vài buổi tùy theo tình hình. Cậu không thể bỏ việc mà sang đấy học được, bởi nếu không làm thì tiền ở đâu ra, ngoài việc học hành, nuôi sống bản thân, vẫn còn đau đáu bệnh tình của bố và nỗi vất vả của mẹ.

Buổi chiều tà, khi vừa bốc gạch ở bên kia cầu Long Biên về, mà nói về mối bốc gạch của anh Ba để lại này thật là đáng quý. Chủ vựa gạch quý Nghĩa lắm bởi sự chăm chỉ, cần cù và cẩn thận của cậu. Ấy thế nên chẳng cần phải hẹn, cứ trống lịch buổi nào là Nghĩa đạp xe sang đó thì hầu như sẽ có việc ngay, kể cả buổi tối đêm cũng vậy. Xe gạch ra – vào nườm nượp suốt cả ngày lẫn đêm, không xuống gạch từ những xe ba chân to thì sẽ có việc bốc gạch từ các kiểu xếp lên các xe nhỏ để chở đi các công trình. Công không được cao lắm, việc cũng lại vất vả nhưng bù lại được cái đều, tránh những buổi nào nhỡ việc. Như vậy cũng là quý hóa lắm rồi.

Về nhà cũng chỉ kiếm cái gì đó ăn rồi ngủ, kể cũng buồn, Nghĩa đỗ xe lại ở giữa cầu mà nhìn về phía thượng nguồn, ánh hoàng hôn chưa đẹp giống độ chính hè nhưng cũng gọi là có thứ ánh sáng đỏ mờ mờ không rõ ràng len ra từ những đám mây làm đỏ quạch một vùng trời. Nghĩa liên tưởng cái hoài bão và ước mơ của mình giống như ánh hoàng hôn vào lúc này vậy. Có ánh sáng đỏ lóe ra đấy nhưng chưa rõ ràng, lại bị những đám mây che đi phần lớn, cần phải cố gắng hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa để vượt qua những trở ngại, có làm gì cũng không được xa rời mục tiêu.

Nghĩa nhìn xuống dòng nước, biết bao lần đạp xe qua đây nhìn dòng nước chảy xuôi về miền biển, trên đường đi của nó ắt hẳn sẽ chảy qua đoạn sông quê mình. Ở nơi đó có mẹ, có cha, có tuổi thơ vui vẻ bên chị Nhài, có chú Lãm, và có cả những người dân làng mình nữa, Tết vừa rồi quá buồn nhưng dù sao thì cũng không trách được họ, có trách thì trách chính mình thôi.

À, nhớ rồi, cũng chính tại nơi đây hồi Nghĩa mới lên Hà Nội đã nhảy xuống cứu Thủy Tiên, thấm thoát vậy mà cũng hơn nửa năm rồi nhỉ? Từ cái hôm Nghĩa về quê ăn Tết có nhìn lén vào trong vườn đến nay cũng đã 2 tháng rồi chưa gặp lại Thủy Tiên lần nào, cũng chưa gặp lại cô Cẩm Tú và cũng chưa bao giờ đến lại ngôi biệt thự trong ngõ phố ấy lần nào. Không biết khu vườn giờ ra sao, những bông hoa hồng, lay ơn, thanh tú, hướng dương, thạch thảo giờ như thế nào?, Giàn hoa Lan tiêu ấy đã phủ kín giàn nứa hay chưa? Cây bưởi Diễn, hồng xiêm Xuân Đỉnh, ổi găng, nhót đã có cây nào đậu quả chưa nhỉ?

Còn Thủy Tiên không biết nuôi tóc dài đến đâu rồi, chắc là chưa dài lắm đâu vì tóc mọc chậm chứ không có nhanh giống như lông lờ, nếu không còn kiểu tóc con trai nữa thì mình gặp lại chửa chắc đã nhận ra. Vẫn biết là Thủy Tiên xinh lắm, khuôn mặt nhỏ nhắn dài dài, cằm nhọn mũi cao dọc dừa, chỉ có điều là ngày xưa để tóc ngắn thì trông nghịch ngợm và bớt xinh thôi, chứ nếu để kiểu tóc dài nữ tính thì sẽ đốn tim biết bao nhiêu chàng trai đấy. Mối quan hệ của mình và Thủy Tiên những ngày cuối năm thật tốt biết bao, ấy vậy mà đùng một cái lại xảy ra chuyện, mình lại mất đi một người bạn.

Cô Cẩm Tú nữa, chắc chẳng bao giờ quên cái ánh mắt của cô nhìn mình trong phòng trọ đêm hôm hăm sáu Tết vừa rồi. Chỉ đôi mắt ấy thôi, chỉ ánh mắt ấy thôi mà như truyền tải quá nhiều cảm xúc. Trong ánh mắt ấy có sự giận dữ của chủ nhà nhìn kẻ trộm, có sự giận hờn của một người phụ nữ nhìn người đàn ông của mình vì đã làm cho cô ấy thất vọng, có sự tiếc nuối, có sự xót xa và còn có cả sự trách móc nữa. Cô là người đầu tiên trong đời cho mình biết thế nào là mùi vị của tình dục, ở cô là sự nhẹ nhàng nhưng da diết, nhu mì nhưng mãnh liệt, làm tình với cô thật tuyệt, có lẽ trong cuộc đời này cũng sẽ chẳng bao giờ tìm được một người tình tuyệt diệu đến như vậy nữa đâu.

Nhưng mọi thứ giờ đã qua, có hoài niệm cũng nào có ích chi. Muốn nối lại mối quan hệ với mẹ con cô Cẩm Tú thì chỉ có một cách duy nhất đấy chính là phải xóa bỏ sự hiểu lầm, nhưng làm thế lại không được vì Nghĩa đã nhận lời bỏ qua cho anh Ba rồi, cái gì đã hứa nhất định Nghĩa sẽ làm, cho dù kết quả nhận được đắng biết nhường nào.

Nghĩa thở dài một cái như muốn trút đi nỗi tâm tư buồn phiền đã qua, để hướng tới một tương lai, phía trước còn ngổn ngang trăm bề, trăm việc cần phải đương đầu và vượt qua.

Cậu lên xe tiếp tục đạp đi, vượt quá nửa về phía bên nội thành, cậu nhìn xuống phía dưới, khoảng ngăn cách giữa đường dành cho xe đạp và làn ở giữa dành cho tàu hỏa có một khoảng hở, đủ để những người đang đi trên cầu nhìn xuống bên dưới, ở đó Nghĩa nhìn thấy rất nhiều con thuyền có mái che đan kết lại với nhau thành một xóm nhỏ mà người ta thường hay gọi là xóm làng chài. Suy nghĩ đó đưa Nghĩa quay trở lại với thời điểm cứu Thủy Tiên lên đến bờ, lúc anh Ba đưa Thủy Tiên đi bệnh viện, ở lại bên cậu lúc đấy có một ông lão gầy gò, tóc bạc phơ, râu dài, khuôn mặt nhăn nheo. Ông có chỉ cho Nghĩa xóm làng chài nơi ông ở và có mời cậu đến chơi.

Nghĩ về nhà một mình cũng buồn, lại thấy những mái thuyền xập xệ phía bên dưới, chắc những người dân xóm làng chài ấy cũng khổ cực chẳng kém mình mấy đâu, Nghĩa rảo chân đạp xe thật nhanh. Cậu vòng xuống chân cầu rồi vượt qua đê đi về phía vùng đất bãi ấy.

Đi hết phố bên bãi là ra đến mép sông, luồn lách theo những con đường đất nhỏ hẹp và ngoằn ngoèo một lúc mới tìm thấy một lối đi nhỏ là đoạn đất nhỏ nối liền với vùng đất ở bãi giữa sông Hồng.

Chẳng đếm nhưng ước chừng có khoảng gần trăm con thuyền lớn nhỏ nép sát vào nhau hoặc nối với nhau bằng những thanh gỗ, từ những con thuyền ấy lại có một thanh gỗ nối xuống với đất liền. Tất cả hình thành lên một xóm bãi liên kết với nhau và gắn với đất. Trước đó là một khoảng đất trống, có rất nhiều trẻ con lớn bé đủ đang chơi đùa các trò chơi, có hơn chục em bé trai đang chơi đá bóng bằng quả bóng nhựa màu xanh. Có vài em bé gái chơi nhảy dây, có hai em mỗi người căng một đầu dây, các em còn lại từng người một nhảy qua, hết lượt thì lại nâng cao lên một tí để thử thách, ai nhảy mà chạm vào dây thì phải ra đổi thành người căng dây. Còn có một nhóm khác đang ngồi túm tụm lại chơi cờ ô ăn quan, chơi chuyền bằng những quả bóng tennis cũ kỹ lượm được ở thùng rác, que chuyền là những đoạn tre được vót nhỏ bằng nửa chiếc đũa. Có lẽ đám trẻ này thích đất, thích được chơi trên đất vào những lúc chiều tà như thế này. Cũng phải thôi, vì thời gian chủ yếu là chúng sống lênh đênh trên sông nước theo cha mẹ xuôi dòng rồi ngược lên đánh bắt cá kiếm miếng cơm ăn hàng ngày, nhìn thấy đất, được đứng trên nền đất đã là một sự sung sướng rồi.

Ở trên thuyền, người lớn đang nấu cơm trên mui, người đun bằng bếp củi, người đun bằng bếp dầu, người đun bằng bếp than tổ ong, kẻ dùng con dao cạo cạo vẩy mấy con cá nhỏ bán thừa. Nước rửa cũng chính là nước sông được lắng cho phù sa đọng xuống đáy, hớt phần nước trong làm nước sinh hoạt hàng ngày.

Khói lên nghi ngút trên từng con thuyền, dưới đất, bọn trẻ chạy nhảy nô đùa, nhìn cảnh kể cũng đẹp đấy, nhưng trông vậy mà không phải vậy đâu.

– “Em cho anh hỏi một tí”, Nghĩa dựng chân chống xe rồi nhặt quả bóng nhựa mà mấy cậu bé vừa đá lăn vào chân cậu. Nghĩa đưa quả bóng cho em rồi hỏi.

Cậu bé mặc chiếc áo sơ mi dài tay, nhưng chiếc áo ấy đen nhẻm đen nhèm, quần một ống thấp một ống ao, đôi chân trần dính đầy đất, mái tóc em ngả màu vàng vàng, cứng đơ xoắn tít lại với nhau thành từng bết. Em nói giọng địa phương của em mà Nghĩa cũng không biết là ở đâu, chỉ biết là phải lắng nghe và ngẫm mãi mới luận được:

– Anh hỏi gì?

Nghĩa muốn tìm ông lão mình đã gặp hôm ấy, nhưng tên thì không biết, chỉ biết hình dáng thôi:

– Anh muốn tìm một người, mà anh không biết tên. Chỉ biết là ông ấy rất già, người gầy, tóc bạc, râu dài đến đây này. Ông bảo là sống ở chỗ này.

Cậu bé tròn xoe mắt nhìn Nghĩa, nghe Nghĩa tả xong, ánh mắt cậu long lanh lên tỏ vẻ vui mừng:

– A, ông Từ.

Vừa hô xong tên ông lão, cậu bé chỉ về một chiếc thuyền ở phía xa: “Thuyền ông Từ có treo cờ đỏ sao vàng trên nóc kia kìa”.

Nghĩa nhìn theo hướng tay em bé chỉ, độc duy nhất một chiếc thuyền có treo một lá cờ đỏ sao vàng đang bay phần phật trong gió:

– Anh cảm ơn. Chơi bóng tiếp với các bạn đi.

Thằng bé ôm quả bóng nhựa chạy lại với đám bạn, chúng đứng im trên sân nhìn Nghĩa từ nãy đến giờ. Mà chúng không đứng yên thì cũng chẳng biết làm gì vì quả bóng duy nhất đang ở trên tay cậu bé cạnh Nghĩa mất rồi còn đâu.

Nghĩa dắt xe về phía thuyền ông Từ.

Đứng ở dưới thuyền, Nghĩa gọi với lên:

– Ông Từ ơi!

Một lúc sau, chính ông lão tóc bạc phơ mà Nghĩa đã từng gặp bước ra mui thuyền nhìn xuống, ông ngờ ngợ vì chưa nhận ra được người vừa gọi mình là ai, ông ngó người về phía trước để dòm cho kỹ hơn, trông ông thật khó hiểu, có lẽ cũng ngờ ngợ nhìn quen quen nhưng chưa thể nhớ ra được:

– Ai đấy nhỉ?

Tiến sát mép nước, Nghĩa ngẩng mặt để ông nhìn mình cho rõ:

– Cháu gặp ông cái hôm ở mép sông đằng kia kìa, hôm đấy cháu cứu người chết đuối rồi gặp ông.

Ông Từ hình như đã nhớ ra, ông vuốt vuốt bộ râu của mình trông thật đẹp, có lẽ hành động này của ông làm quá nhiều lần rồi, ông gật gù:

– Nhớ rồi, nhớ rồi. Tưởng không gặp lại cháu chứ. Lên đây.

Thế rồi ông đẩy một thanh gỗ dắt ở mạn thuyền xuống dưới đất, Nghĩa theo cầu tạm ấy lên thuyền.

Rồi ông ngồi xuống luôn mui thuyền của mình, Nghĩa ngồi xuống đối diện ông, ở giữa hai ông cháu có một cái xuyến to đựng nước chè xanh. Trên mui thuyền còn lỉnh kỉnh nhiều đồ dùng khác như bếp, nồi niêu xoong chảo, thớt dao. Ngó vào phía bên trong chỗ có mái che của thuyền, Nghĩa thấy đơn sơ một manh chiếu đơn, trên có chăn, màn, gối được gấp cẩn thận, vuông vắn giống kiểu bộ đội. Ở phía đuôi thuyền là một đống lưới đánh cá, vợt cá, cần câu, giống như đồ đánh cá ở trên thuyền chú Lãm.

Ông Từ rót chè xanh ra hai cái bát con:

– Uống nước đi cháu. Sao giờ mới tới đây tìm ông?

Nghĩa nhấp một ngụm chè xanh, không nóng lắm vì chắc là để lâu rồi:

– Hôm nay vô tình cháu đi làm qua đây, nhớ là có hẹn với ông nên đến thăm ông ạ.

Ông Từ lại vuốt râu, ông như nhớ lại cái lúc mình ở trên bờ theo dõi chàng thanh niên vật lộn với dòng nước để cứu người:

– Cháu dũng cảm lắm. Dám nhảy xuống sông Hồng cứu người. Không sợ chết à?

Nghĩa cười hì hì coi như đó chẳng phải chuyện gì ghê gớm:

– Hì hì hì, lúc đó cháu không kịp nghĩ đến chuyện đấy. Lên bờ mới thấy sợ.

– Thế có gặp lại được người mà cháu cứu không? Ông nhớ là có một người khác, hình như là bạn của cháu bế cô bé ấy đi, lúc đầu ông còn tưởng người cháu cứu là đàn ông cơ, con gái gì mà để tóc như con trai, còn cạo cạo ở hai bên nữa chứ. Nhìn kỹ mới biết là con gái, khổ vậy, không biết gặp phải chuyện gì mà còn trẻ thế đã tự tử rồi.

Sóng đánh làm con thuyền dập dềnh, nước chè xanh trong bát trào ra bên ngoài một chút, Nghĩa sống trên thuyền cũng nhiều rồi nên coi chuyện đó là hết sức bình thường, không đáng để tâm. Cậu không kể cho ông nghe về chuyện mình đã có một quãng thời gian khá dài biết Thủy Tiên, nhưng giờ khác rồi, cũng coi như là không biết:

– Cháu chưa gặp lại ông ạ, mà gặp cũng chẳng để làm gì.

Ông Từ lại vuốt râu, ông cười sang sảng, nhìn ông gầy gò vậy thôi, nhưng khuôn mặt ông rắn rỏi sương gió lắm, da vẫn hồng hào, đôi mắt vẫn sáng lung linh:

– Vậy hả? Thôi chúng ta nói chuyện khác đi. Cháu tên là gì?, Quê ở đâu?, Đang làm gì?

– “Cháu tên là Nghĩa, quê cháu ở Hưng Yên, cũng ven con sông Hồng này”, Nghĩa bắt đầu kể cho ông nghe sơ lược về bản thân mình, về quê hương mình, về những ngày tháng ấu thơ cũng đăng cá trên sông Hồng, về những công việc mình đang làm ở trên này nữa.

Sống xa quê, gặp một người mà mình có thể tâm sự được cho thỏa nỗi lòng, nhất là đối với Nghĩa trong hoàn cảnh bây giờ, lúc đi làm cũng ít khi được nói chuyện, về nhà chỉ lủi thủi một mình, toàn bụng bảo dạ. Ấy thế nên gặp được người cậu cũng chẳng giấu giếm mà kể hết. Đương nhiên những chuyện tế nhị thì không kể ra đây rồi, bởi nếu nói chuyện địt bọp ra với ông Từ, một ông lão đã 70 tuổi chắc gì ông đã thích nghe.

Ông Từ kiên nhẫn nghe hết những lời kể của Nghĩa, ông cứ vuốt râu, rồi thỉnh thoảng nhấp ngụm trà vậy thôi.

– Kể ra cháu cũng vất vả đấy. Nhưng không sao, thanh niên sức dài vai rộng, tương lai còn ở phía trước. Hồi bằng tuổi cháu bây giờ, ông đã là lính Điện Biên, đào hào, xung phong tiêu diệt giặc rồi đấy. Ha ha ha!

Trong ánh mắt ông như có nụ cười, có lẽ những năm tháng cầm súng chiến đấu của ông như mới chỉ ngày hôm qua. Nghĩa nhìn lên trên nóc mái thuyền, ở đó, lá cờ đỏ sao vàng đang tung bay phấp phới.

Nghĩa hỏi lại ông:

– Cháu thấy ông sống một mình. Thế con cháu ông đâu?

Nụ cười từ từ lịm tắt trên đôi mắt ông để nhường chỗ cho nét trầm tư, ông dùng vài lời tóm tắt để kể về cuộc sống của mình:

– Nhà ông trên thượng lưu con sông này. Từ bé ông đã sống bằng nghề chài lưới. Rồi giặc ngoại xâm đốt thuyền, giết chết hết cha mẹ ông. Ông may mắn sống sót vì trốn được. Khi ông mười tám tuổi thì nhập ngũ rồi trở thành lính Điện Biên. Khi Pháp đi thì Mỹ đến. Ông ở lại quân ngũ và đi khắp các chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia. Hòa bình, ông giải ngũ trở về quê hương, chẳng biết làm gì khác nên vẫn theo nghiệp sông nước ông bà để lại. Ngoảnh đi ngoảnh lại cũng già, ông chẳng con, chẳng cháu.

Nghỉ một lúc, ông Từ uống thêm một ngụm trà, mắt nhìn về phía dòng sông Hồng đỏ ục phù sa:

– Ở quê khó sống, ông xuôi dòng và cập bờ ở đây, lấy nghề đánh cá sông làm kế sinh nhai. Ấy vậy mà sống ở cái bãi giữa này cũng được ngót nghét hai chục năm rồi đấy.

Rồi ông nhìn một lượt xóm làng chài, có lẽ nơi đây một phần ông coi cũng là quê hương thứ hai của mình, mặc dù chẳng ai công nhận cho ông điều ấy:

– Gọi là làng chài cho nó oai thôi, chứ ở đây có được ai công nhận là xóm là làng gì đâu. Có khoảng gần trăm thuyền đánh cá, tức là gần trăm hộ dân. Cứ ban ngày thì tản mát khắp nơi đánh bắt trên sông, được con cá, con tôm nào thì tập hợp về đây rồi mang lên bờ bán. Lâu dần hình thành nên làng chài. Cháu thấy đấy, người trong xóm chài cũng ở tám phương chín hướng tập hợp về đây. Họ đa phần đều là dân chài lưới từ nhiều đời, cả đời họ giống như ông, sống ở thuyền nhiều hơn ở dưới đất. Quen ngủ trong cái chông chênh của thuyền rồi, lên bờ nằm đất đố mà ngủ được đấy.

Một phần nào đó, những người dân xóm chài này giống chú Lãm ở quê, cũng dùng nghề đánh bắt cá làm cái mưu sinh. Nhưng chú Lãm khác với họ một chút, chú có nhà ở bờ sông, còn người dân ở đây, coi thuyền là nhà, coi nước là đất. Nếu có chết đi vì bất cứ lý do gì, cũng chỉ buộc vào manh chiếu, chằng thêm cục đá rồi thả xuống sông là xong, không mồ, không mả, không bia gì sất.

Nghĩa nhìn ra bãi đất trống mà vừa nãy cậu đứng lại hỏi thăm, các em nhỏ vẫn mải miết với các trò chơi của mình, cậu buột miệng hỏi:

– Thế các em nhỏ kia học hành ra làm sao hả ông?

Ông Từ đứng dậy, chân trần ông bước xuống tấm ván rời thuyền xuống đất, Nghĩa cũng đi theo. Đứng trước đám trẻ con, ông thở dài lo lắng:

– Cái này ông và bố mẹ chúng lo nhất đấy. Từ 6 đến 15 tuổi cả thảy có 37 đứa thì chỉ mấy đứa biết nguệch ngoài vài chữ, còn lại thì đều mù chữ cả. Mù chữ vẫn sống được, nhưng sẽ chẳng bao giờ có thể thay đổi được cuộc sống của mình. Bố mẹ chúng có vào trong kia xin cho chúng đi học đấy, nhưng không ai người ta nhận cả, bởi người dân ở đây chẳng ai có giấy tờ, hộ khẩu gì cả, ngay cả quê cũng chỉ tính là nơi sinh ra mà thôi. Thế nên đã khó lại càng khó hơn. Rồi tương lai chúng sẽ ra sao? Hay là sẽ sống đến già trên sông như chính ông, chính bố mẹ của chúng đây?

Mặc dù ông Từ không con không cháu, những đứa trẻ nơi đây cũng chẳng phải họ hàng thân thích ruột thịt gì của ông, nhưng những lời tâm sự của ông vừa rồi nghe không giống như vậy, có sự não nề thương cảm về tương lai của những đứa trẻ này. Chúng rồi sẽ ra sao? Nghĩa không thể ngờ rằng, giữa lòng Thủ đô Hà Nội lại tồn tại một xóm mù nghèo mù chữ như thế này. Ở đời này kể cũng lạ, không có gì là không thể cả, đừng nghĩ rằng Hà Nội toàn người giàu, ở quê toàn người nghèo. Cứ nhìn đi, những người dân xóm chài, những đứa trẻ này đây, họ còn nghèo hơn, còn khổ hơn những người dân xóm Bãi quê Nghĩa nhiều lần.

Chính Nghĩa cũng bị hút vào những lời tự sự của ông, cậu cũng có những sự trăn trở, suy nghĩ về những đứa trẻ này giống như ông vậy. Sự đồng